THIẾT KẾ KIẾN TRÚC NHÀ ỐNG HIỆN ĐẠI | ||||||||||||||||
Công trình: Thiết kế nhà mat pho (279 views) Chủ đầu tư: Chị Thuý Anh Địa điểm:Đà Nẵng Tổng diện tích xây dựng: 150m2 Nhóm Thiết kế: KTS.Nguyễn Bảo Tùng-KTS.Phạm Văn Ngọc TG thiết kế: 12/2009 - TG thi công: 02/2010 | ||||||||||||||||
Người Pháp nói: “Chúa tạo ra thế giới còn những Kiến Trúc Sư làm đẹp nó”
Thứ Hai, 14 tháng 3, 2011
PHONG CÁCH MỚI CHO THIẾT KẾ NHÀ PHỐ- BIỆT THỰ PAST 1
Thứ Ba, 8 tháng 3, 2011
Hành nghề kiến trúc
Sáng tác, họa sỹ từ cảm hứng; kiến trúc sư theo đặt hàng. Quan hệ cung và cầu trực tiếp. Giữa kiến trúc sư và khách hàng là sản phẩm. Sản phẩm không theo mẻ, không đại trà. Sản phẩm đơn chiếc. Hành nghề kiến trúc sư đặc trưng chính là ở chỗ quan hệ mặt đối mặt với khách hàng và sản phẩm đơn chiếc làm theo đơn đặt hàng.
Khác tác phẩm hội họa, sản phẩm kiến trúc không đi ra trực tiếp từ bàn tay tác giả, mà có sự tham gia và can thiệp của khách hàng, của cộng sự thuộc nhiều chuyên ngành. Nó chỉ thực sự hiển hiện dưới bầu trời nhờ bàn tay người thợ, sự hỗ trợ của máy móc và từ những bài tính của thực tế. Khác hội họa, nơi sản phẩm sản sinh từ một cá thể sáng tạo, - khối não - trái tim - con mắt và bàn tay, - sản phẩm kiến trúc bị chi phối bởi luật, bởi những quy chế và quy phạm, bởi những ràng buộc liên quan liên đới từ đô thị và từ cộng đồng.
Trải qua ngần nấy tầng nấc và ngần nấy mối quan hệ, mà sản phẩm cuối cùng - công trình kiến trúc - còn bảo lưu những ý tưởng của kiến trúc sư khai sinh ra nó, có thể coi quá trình hành nghề chuyên biệt của anh đã trọn vẹn. Ở ta, kiến trúc sư đạt được điều ấy, quả là hiếm hoi.
Trong cộng đồng trí thức hành nghề, luật sư, bác sỹ và kiến trúc sư trực diện hơn cả trước khách hàng, nhận vào mình bổn phận và trách nhiệm trước khách hàng, tuân thủ những ràng buộc của luật, chấp hành đạo đức và bài bản hành nghề. Từ đó, cần có một công cụ pháp lý, xuyên suốt và thấu đáo, điều tiết những mối quan hệ dân sự và nghề nghiệp. Công cụ ấy chính là một đạo luật hành nghề kiến trúc sư, tương tự luật hành nghề luật sư và luật hành nghề bác sỹ (ở ta được mệnh danh một cách tránh né “luật khám chữa bệnh”) đã có hiệu lực.


TECAPRO Building - Cầu Giấy, Hà Nội - Thiết kế: Văn phòng kiến trúc 1+1>2
Mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế đã đứng cả hai chân trong nền kinh tế thị trường, song hành nghề kiến trúc vẫn bị chi phối bởi lực quán tính của thời bao cấp. Quản lý Nhà nước không còn hiệu lực trước thực tế hành nghề kiến trúc đã trở thành thị trường, hòa nhập vào dòng chảy của nền kinh tế tự do hóa và khi hầu hết kiến trúc sư hành nghề ngoài nhà nước. Cả một địa hạt hành nghề kiến trúc rộng lớn, với những quan hệ đa phương phức tạp và những hệ lụy phức tạp không kém, cho đến nay vẫn thiếu hẳn một công cụ pháp lý đóng vai trò điều tiết. Luật hành nghề kiến trúc sư cần phải ra đời là sự tất yếu. Nó sẽ xác định đạo đức, trách nhiệm xã hội và trách nhiệm trước khách hàng của kiến trúc sư, tạo ra nền tảng lành mạnh cho kinh doanh tư vấn kiến trúc, điều tiết các mối quan hệ, xác lập tổ chức hành nghề của kiên trúc sư tương thích với nền kinh tế thị trường. Đó là nghiệp đoàn của những người hành nghề kiến trúc, dưới tên gọi Đoàn Kiến trúc sư, tập hợp kiến trúc sư đăng ký hành nghề, quản lý họ bằng quy ước đạo đức và quan hệ hành nghề, bênh vực quyền lợi của họ, làm trọng tài trong quan hệ của họ với khách hàng. Cho đến nay ta chưa thực hiện đăng ký hành nghề kiến trúc sư, do đó có bao nhiêu kiến trúc sư hành nghề, ta không biết. Việc cấp chứng chỉ hành nghề do các Sở Xây dựng cấp, thường không sát thực lực người xin cấp chứng chỉ. Đặc biệt, việc quản lý hành nghề theo chứng chỉ, việc xử phạt theo chứng chỉ chưa thấy một tổ chức nào đảm nhiệm. Thiếu đạo luật hành nghề kiến trúc sư và nghiệp đoàn kiến trúc sư, chưa có thể nói đến tính chuyên nghiệp trong hành nghề và trong kinh doanh hành nghề, cũng chưa thể hình thành thực sự thị trường tư vấn kiến trúc. Kiến trúc sư chưa thể có những điều kiện để đáp ứng đầy đủ các đơn đặt hàng của xã hội.
Tổ chức hành nghề kiến trúc trong những điều kiện hiện nay dẫn tới tình trạng: Có rất ít doanh nghiệp chuyên về tư vấn thiết kế kiến trúc; quá nhiều doanh nghiệp kiến trúc nhỏ bé; các doanh nghiệp kiến trúc ít có thương hiệu và không gắn với tên tuổi kiến trúc sư có uy tín nghề nghiệp. Thu nhập thấp và bấp bênh không cho phép các công ty kiến trúc chuyên doanh về thiết kế. Vốn liếng ít ỏi và thị trường nhỏ lẻ hạn chế kiến trúc sư tập hợp thành những doanh nghiệp lớn và mạnh. Các doanh nghiệp ít có thương hiệu do bề dày hành nghề chưa đủ và do chưa đủ năng lực tranh giành những dự án lớn. Các kiến trúc sư thành danh chưa nhiều. Việc kiến trúc sư lấy tên mình tạo thương hiệu cho công ty tư vấn kiến trúc chưa dễ dàng được chấp nhận. Những đơn vị tư vấn kiến trúc, đảm nhiệm nhiều lĩnh vực kinh doanh, vừa nhỏ lẻ và chưa thành danh, không được dẫn dắt bởi một thủ lĩnh trong nghề, không thể thúc đẩy hành nghề, không thể thúc đẩy kiến trúc đi thẳng và đi nhanh vào hiện đại.
Chúng ta nhận ra sự thua kém của kiến trúc sư và doanh nghiệp tư vấn kiến trúc quốc nội trong cuộc tranh sức tranh tài với các đồng nghiệp quốc tế. Sự yếu kém ấy phải tìm nguyên nhân ở điều kiện hành nghề hiện nay. Chỉ có thiết lập môi trường hành nghề tương thích nền kinh tế thị trường, chỉ có nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực kiến trúc, ta mới có thể có sự bình đẳng và hội nhập quốc tế.
Ban bố luật hành nghề kiến trúc sư, thành lập nghiệp đoàn kiến trúc sư, sắp xếp lại tổ chức hành nghề, lành mạnh hóa môi trường hành nghề, chuyên nghiệp hóa hành nghề và kinh doanh hành nghề sẽ là những đảm bảo cho nền kiến trúc vượt qua lạc hậu và bứt phá về hướng hiện đại hóa.
Trải qua ngần nấy tầng nấc và ngần nấy mối quan hệ, mà sản phẩm cuối cùng - công trình kiến trúc - còn bảo lưu những ý tưởng của kiến trúc sư khai sinh ra nó, có thể coi quá trình hành nghề chuyên biệt của anh đã trọn vẹn. Ở ta, kiến trúc sư đạt được điều ấy, quả là hiếm hoi.
- Ảnh bên : FPT 89 Lang Ha Building - Thiết kế : HTT Architect & Associates
Trong cộng đồng trí thức hành nghề, luật sư, bác sỹ và kiến trúc sư trực diện hơn cả trước khách hàng, nhận vào mình bổn phận và trách nhiệm trước khách hàng, tuân thủ những ràng buộc của luật, chấp hành đạo đức và bài bản hành nghề. Từ đó, cần có một công cụ pháp lý, xuyên suốt và thấu đáo, điều tiết những mối quan hệ dân sự và nghề nghiệp. Công cụ ấy chính là một đạo luật hành nghề kiến trúc sư, tương tự luật hành nghề luật sư và luật hành nghề bác sỹ (ở ta được mệnh danh một cách tránh né “luật khám chữa bệnh”) đã có hiệu lực.
| Click vào đây để xem hình ảnh lớn hơn nha! www.uhm.vn |
TECAPRO Building - Cầu Giấy, Hà Nội - Thiết kế: Văn phòng kiến trúc 1+1>2
Mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế đã đứng cả hai chân trong nền kinh tế thị trường, song hành nghề kiến trúc vẫn bị chi phối bởi lực quán tính của thời bao cấp. Quản lý Nhà nước không còn hiệu lực trước thực tế hành nghề kiến trúc đã trở thành thị trường, hòa nhập vào dòng chảy của nền kinh tế tự do hóa và khi hầu hết kiến trúc sư hành nghề ngoài nhà nước. Cả một địa hạt hành nghề kiến trúc rộng lớn, với những quan hệ đa phương phức tạp và những hệ lụy phức tạp không kém, cho đến nay vẫn thiếu hẳn một công cụ pháp lý đóng vai trò điều tiết. Luật hành nghề kiến trúc sư cần phải ra đời là sự tất yếu. Nó sẽ xác định đạo đức, trách nhiệm xã hội và trách nhiệm trước khách hàng của kiến trúc sư, tạo ra nền tảng lành mạnh cho kinh doanh tư vấn kiến trúc, điều tiết các mối quan hệ, xác lập tổ chức hành nghề của kiên trúc sư tương thích với nền kinh tế thị trường. Đó là nghiệp đoàn của những người hành nghề kiến trúc, dưới tên gọi Đoàn Kiến trúc sư, tập hợp kiến trúc sư đăng ký hành nghề, quản lý họ bằng quy ước đạo đức và quan hệ hành nghề, bênh vực quyền lợi của họ, làm trọng tài trong quan hệ của họ với khách hàng. Cho đến nay ta chưa thực hiện đăng ký hành nghề kiến trúc sư, do đó có bao nhiêu kiến trúc sư hành nghề, ta không biết. Việc cấp chứng chỉ hành nghề do các Sở Xây dựng cấp, thường không sát thực lực người xin cấp chứng chỉ. Đặc biệt, việc quản lý hành nghề theo chứng chỉ, việc xử phạt theo chứng chỉ chưa thấy một tổ chức nào đảm nhiệm. Thiếu đạo luật hành nghề kiến trúc sư và nghiệp đoàn kiến trúc sư, chưa có thể nói đến tính chuyên nghiệp trong hành nghề và trong kinh doanh hành nghề, cũng chưa thể hình thành thực sự thị trường tư vấn kiến trúc. Kiến trúc sư chưa thể có những điều kiện để đáp ứng đầy đủ các đơn đặt hàng của xã hội.
- Ảnh bên : VN Post Tower - Thiết kế : Liên danh giữa Công ty Kiến trúc Việt và Công ty Tư vấn Baurconsult (CHLB Đức)
Chúng ta nhận ra sự thua kém của kiến trúc sư và doanh nghiệp tư vấn kiến trúc quốc nội trong cuộc tranh sức tranh tài với các đồng nghiệp quốc tế. Sự yếu kém ấy phải tìm nguyên nhân ở điều kiện hành nghề hiện nay. Chỉ có thiết lập môi trường hành nghề tương thích nền kinh tế thị trường, chỉ có nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực kiến trúc, ta mới có thể có sự bình đẳng và hội nhập quốc tế.
Ban bố luật hành nghề kiến trúc sư, thành lập nghiệp đoàn kiến trúc sư, sắp xếp lại tổ chức hành nghề, lành mạnh hóa môi trường hành nghề, chuyên nghiệp hóa hành nghề và kinh doanh hành nghề sẽ là những đảm bảo cho nền kiến trúc vượt qua lạc hậu và bứt phá về hướng hiện đại hóa.
Ngphong.arch@gmail.com
Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2011
Báo giá thiết kế kiến trúc( tham khảo)
I- Thiết kế xây dựng mới:
| Stt | Dạng CT | Chiều rộng mặt tiền chính (A) (mét) | Suất đầu tư / m2 sàn xây dựng (đồng) | Giá thiết kế (đ/m2) | |||
| Gói A | Gói B | Gói C | Gói D | ||||
| 75 ngày | 55 ngày | 40 ngày | 25 ngày | ||||
| 1 | Nhà phố 1 mặt tiền | A < 4,5 | 4.500.000 | 64.000 | 128.000 | 166.000 | 236.000 |
| 2 | Nhà phố 2 mặt tiền | A < 4,5 | 4.700.000 | 70.000 | 138.000 | 179.000 | 255.000 |
| 3 | Nhà phố 3 mặt tiền | A < 4,5 | 5.000.000 | 74.000 | 148.000 | 190.000 | 275.000 |
| 4 | Nhà phố | 4,6< A < 6 | 4.800.000 | 77.000 | 158.000 | 205.000 | 290.000 |
| 5 | Nhà biệt thự mini | 6 < A < 8 | 5.500.000 | 87.000 | 168.000 | 218.000 | 310.000 |
| 6 | Nhà biệt thự | A > 8 | 6.500.000 | 110.000 | 188.000 | 245.000 | 350.000 |
- Đơn giá trên áp dụng cho nhà có tổng diện tích sàn > 200 m2.
- Nếu tổng diện tích sàn từ 100 – 174 m2, nhân thêm với hệ số k=1,2.
- Nếu tổng diện tích sàn từ 175 – 200 m2, nhân thêm với hệ số k=1,1.
- Nếu tổng diện tích sàn từ nhỏ hơn 100 m2, nhân thêm với hệ số k=1,4.
- Cách tính diện tích:
- Phần diện tích có mái che: tính 100% diện tích.
- Diện tích không có mái che: tính 50% diện tích.
- Phần thang: tính 150% diện tích
- Phần diện tích lợp ngói: tính 150% diện tích.
| Stt | Danh mục hồ sơ | Mô tả nội dung hồ sơ | Hồ sơ trong gói thiết kế | |||
| A | B | C | D | |||
| 1 | Hồ sơ xin phép xây dựng | +Đầy đủ hồ sơ xin phép xây dựng theo quy định (không bao gồm thủ tục đi xin phép xây dựng) | ● | ● | ● | |
| 2 | Hồ sơ phối cảnh | Phối cảnh ba chiều mặt tiền | ● | ● | ● | |
| 3 | Hồ sơ kiến trúc | + Mặt bằng kỹ thuật các tầng. + Các mặt đứng triển khai. + Các mặt cắt kỹ thuật thi công. | ● | ● | ● | ● |
| 4 | Hồ sơ kiến trúc mở rộng | + Mặt bằng trần giả. + Mặt bằng lát sàn; Mặt bằng bố trí đồ nội thất. | ● | ● | ||
| 5 | Hồ sơ nội thất | + Trang trí nội thất, ánh sáng, vật liệu, màu sắc toàn nhà. | ● | |||
| 6 | Hồ sơ nội thất triển khai | + Triển khai chi tiết các thiết bị nội thất. + Triển khai các chi tiết trang trí tường, vườn cảnh… | ● | |||
| 7 | Hồ sơ chi tiết cấu tạo | +Thang, ban công, vệ sinh, cửa và các các chi tiết khác của công trình. | ● | ● | ● | ● |
| 8 | Hồ sơ kết cấu | + Mặt bằng chi tiết móng, bể phốt + Mặt bằng dầm sàn, cột các tầng + Chi tiết cầu thang, chi tiết cột, chi tiết dầm. + Các bản thống kê thép | ● | ● | ● | |
| 9 | Hồ sơ thiết kế kỹ thuật M&E | + Bố trí điện công trình. + Cấp thoát nước công trình. + Hệ thống thông tin liên lạc; Hệ thống chống sét | ● | ● | ● | |
| 10 | Phần thiết kế cảnh quan sân vườn | + Thiết kế cổng tường rào, hệ thống hạ tầng kỹ thuật. + Sân, đường đi dạo, giao thông nội bộ. + Đèn trang trí, chi tiết phụ trợ khác | ● | ● | ||
| 11 | Dự toán chi tiết và tổng dự toán xây dựng | + Bóc tách, liệt kê khối lượng, đơn giá, thành tiền các hạng mục thi công công trình. | ● | ● | ● | |
| 12 | Giám sát tác giả | + Đảm bảo xem xét việc thi công xây lắp đúng thiết kế. + Giúp chủ đầu tư lựa chọn vật liệu và thiết bị nội thất. | ● | ● | ● | |
II- Thiết kế nội thất:
Thành phần hồ sơ bao gồm:
| Bản vẽ khảo sát và đánh giá hiện trạng | Thiết kế các không gian nội thất. |
| Thiết kế mặt bằng công năng | Thiết kế điện, nước, thông tin liên lạc… |
| Thiết kế chi tiết trang trí, chi tiết đồ nội thất. | Lập khái toán. |
a) Thiết kế nội thất các công trình nhà ở gia đình:
Với công trình thiết kế xây dựng từ đầu,hồ sơ thiết kế nội thất là một hạng mục trong tư vấn thiết kế xây dựng. Chi phí thiết kế nội thất tính theo gói hồ sơ thiết kế. Với công trình đã có và thiết kế nội thất cho không gian công trình này, tư vấn thiết kế nội thất không làm thay đổi cũng như ảnh hưởng tới kết cấu hiện tại của công trình, chi phí được tính theo mức giá sau (với các công trình có làm ảnh hưởng đến kết cấu hiện tại của công trình, chi phí cộng thêm 40%-75% phí thiết kế cải tạo):
| S thiết kế nội thất | S ≤ 100m2 | 100m2 < S ≤150m2 | 150 < S < 300m2 | S ≥ 300m2 |
| Đơn giá thiết kế | 318.000 đ/m2 | 232.000 đ/m2 | 215.000 đ/m2 | 180.000đ/m2 |
b) Thiết kế nội thất công trình công cộng, thương mại, văn phòng:
Thiết kế nội thất công trình trên một không gian mới, phần thiết kế nội thất không làm thay đổi cũng như ảnh hưởng tới kết cấu hiện tại của công trình:
| S thiết kế nội thất | S ≤100m2 | 100m2 < S≤150m2 | 150 < S < 300m2 | S ≥ 300m2 |
| Đơn giá thiết kế | 300.000 đ/m2 | 230.000 đ/m2 | 205.000 đ/m2 | 170.000đ/m2 |
III.Thiết kế cải tạo:
Đơn giá tư vấn thiết kế kiến trúc cải tạo, mức độ phức tạp về kết cấu công trình (theo sự đánh giá của bộ phận thiết kế kết cấu dựa trên các kết quả khảo sát hiện trạng):
Cải tạo mặt đứng: ∑Smđct x 120.000đ
Cải tạo mặt bằng: ∑Smbct x (giá thiết kế tùy vào từng gói) x kct
Cải tạo mặt đứng: ∑Smđct x 120.000đ
Cải tạo mặt bằng: ∑Smbct x (giá thiết kế tùy vào từng gói) x kct
Nhân hệ số kct = 1,2 đến 1,5 với các đơn giá tương ứng trong phần I, II tùy mức độ.
Lưu ý: Các đơn giá cải tạo không bao gồm phí đo vẽ hiện trạng (10.000đ/m2). Hệ số trên áp dụng cho các hợp đồng cải tạo có giá trị trên 10.000.000đ. Nếu nhỏ hơn mức này, thiết kế phí sẽ được tính thành gói: 10.000.000đ.
Lưu ý: Các đơn giá cải tạo không bao gồm phí đo vẽ hiện trạng (10.000đ/m2). Hệ số trên áp dụng cho các hợp đồng cải tạo có giá trị trên 10.000.000đ. Nếu nhỏ hơn mức này, thiết kế phí sẽ được tính thành gói: 10.000.000đ.
IV.Thiết kế các hạng mục phụ trợ: Hồ sơ thiết kế sân vườn, cổng tường rào, vườn sỏi, bể cảnh… đơn lẻ:
Phí tư vấn thiết kế = 120.000 đ/m2. Phần vườn có thêm design mảng đứng, tính thêm theo m2 mảng đứng.
Phí tư vấn thiết kế = 120.000 đ/m2. Phần vườn có thêm design mảng đứng, tính thêm theo m2 mảng đứng.
Hồ sơ bao gồm:
- Cổng, tường rào và hệ thống kỹ thuật hạ tầng.
- Sân , đường đi dạo, giao thông nội bộ
- Mặt bằng tổng thể cảnh quan sân vườn.
- Đèn và chi tiết trang trí phụ trợ.
- Bể nước trang trí.
- Bồn cỏ, cây trang trí.
- Lập khái toán.
Lưu ý: Chi phí thiết kế trên áp dụng đối với những công trình cảnh quan sân vườn có giá trị hợp đồng tư vấn thiết kế có giá trị trên 8.000.000 đồng. Nếu nhỏ hơn mức này, thiết kế phí sẽ được tính thành gói 8.000.000 đ.
V. Các trường hợp phát sinh sau khi đã ký kết hợp đồng:
Trong các trường hợp thay đổi phương án thiết kế với lý do từ phía khách hàng, chi phí thiết kế được xem xét tính thêm:
Trong các trường hợp thay đổi phương án thiết kế với lý do từ phía khách hàng, chi phí thiết kế được xem xét tính thêm:
| Giai đoạn | Tiến độ công việc | Chi phí tính thêm |
| 1 | Ngay sau thời điểm thông nhất phương án thiết kế cơ sở . | 20% x giá trị hợp đồng |
| 2 | Sau khi hợp đồng đã thực hiện được 1/2 thời gian sau khi thống nhất phương án thiết kế cơ sở. | 40% x giá trị hợp đồng. |
| 3 | Sau khi hợp đồng đã thực hiện được 2/3 thời gian sau khi thống nhất phương án thiết kế cơ sở. | 65% x giá trị hợp đồng. |
| Giai đoạn | Tiến độ công việc | Chi Phí |
| 1 | Sau thời điểm ký kết hợp đồng | 50% x giá trị hợp đồng. |
| 2 | Sau khi hợp đồng đã thực hiện được 1/2 thời gian sau khi thống nhất phương án thiết kế cơ sở. | 70% x giá trị hợp đồng. |
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)